Một bệnh có tỷ lệ mắc trong dân số là p. Một bệnh nhân được thực hiện hai xét nghiệm khác nhau để chẩn đoán bệnh này:
Giả sử kết quả của hai xét nghiệm là độc lập có điều kiện khi biết tình trạng bệnh thực sự (mô hình Naive Bayes). Biết kết quả cụ thể của cả hai xét nghiệm (mỗi kết quả là duong hoặc am), hãy tính xác suất hậu nghiệm bệnh nhân thực sự mắc bệnh:
P(bệnh∣r1,r2)=p⋅L1(r1)⋅L2(r2)+(1−p)⋅Lˉ1(r1)⋅Lˉ2(r2)p⋅L1(r1)⋅L2(r2)
trong đó với mỗi xét nghiệm j: Lj(duong)=sej, Lj(am)=1−sej (likelihood khi có bệnh), và Lˉj(duong)=1−spj, Lˉj(am)=spj (likelihood khi không bệnh).
Ví dụ: p=0.02; test 1: se1=0.9,sp1=0.9; test 2: se2=0.95,sp2=0.85; kết quả duong duong ⇒ tử số =0.02×0.9×0.95=0.0171, mẫu số =0.0171+0.98×0.1×0.15=0.0318, kết quả ≈0.537736.
Dòng 1: số thực p.
Dòng 2: hai số thực se1 sp1.
Dòng 3: hai số thực se2 sp2.
Dòng 4: hai từ r1 r2 (mỗi từ là duong hoặc am) - kết quả tương ứng của xét nghiệm 1 và xét nghiệm 2.
In ra một số thực duy nhất là xác suất hậu nghiệm P(bệnh∣r1,r2), làm tròn 6 chữ số thập phân.
Nếu mẫu số bằng 0 (tổ hợp kết quả không thể xảy ra với bất kỳ tình trạng bệnh nào), in ra -1.000000.
Ví dụ:
Đầu vào:
0.02
0.9 0.9
0.95 0.85
duong duong
Đầu ra:
0.537736
Đầu vào:
0.02
0.9 0.9
0.95 0.85
am am
Đầu ra:
0.000133
Đang tải editor...