Một bệnh nhân có xác suất tiên nghiệm mắc bệnh D là p=P(D). Bệnh nhân lần lượt thực hiện n xét nghiệm độc lập (có thể là các loại xét nghiệm khác nhau, với độ nhạy/độ đặc hiệu khác nhau). Xét nghiệm thứ k có:
Giả sử kết quả các xét nghiệm độc lập có điều kiện với nhau khi biết tình trạng bệnh (conditional independence). Hãy áp dụng quy tắc Bayes tuần tự: sau mỗi xét nghiệm, xác suất hậu nghiệm của bước trước trở thành xác suất tiên nghiệm của bước sau, theo công thức cập nhật
P(D∣ba˘ˋng chứng đeˆˊn bước k)=P(D∣đeˆˊn bước k−1)⋅Lk+(1−P(D∣đeˆˊn bước k−1))⋅Lk′P(D∣đeˆˊn bước k−1)⋅Lk
trong đó nếu resultk=1 thì Lk=sensk, Lk′=1−speck; nếu resultk=0 thì Lk=1−sensk, Lk′=speck.
Quy ước: nếu p=0, đầu ra luôn là 0 (không có bằng chứng nào làm thay đổi được); nếu p=1, đầu ra luôn là 1. Nếu n=0 (không có xét nghiệm nào) thì kết quả chính là p.
Ví dụ: p=0.5, không có xét nghiệm nào (n=0) thì đầu ra là 0.500000.
Dòng đầu tiên chứa số thực p và số nguyên n (0≤p≤1, 0≤n≤1000), cách nhau bởi khoảng trắng.
n dòng tiếp theo, mỗi dòng chứa sensk speck resultk, trong đó sensk,speck là số thực với 0<sensk<1, 0<speck<1, và resultk∈{0,1}.
In ra một số thực duy nhất — xác suất hậu nghiệm cuối cùng P(D∣taˆˊt cả ba˘ˋng chứng), làm tròn tới đúng 6 chữ số thập phân.
Ví dụ:
Đầu vào:
0.5 0
Đầu ra:
0.500000
Đầu vào:
0.1 3
0.9 0.9 1
0.8 0.95 0
0.95 0.8 1
Đầu ra:
0.500000
Đang tải editor...